![]() |
| !2 con giáp năm 2015 (ảnh ST trên mạng) |
Vũ trụ bao la có quy luật vận hành tự nhiên vốn có và trong đó các ngôi sao, thời tiết, sinh mệnh con người cũng vận hành theo một quỹ đạo nhất định nào đó. Quy luật ấy, về tuổi mỗi cá nhân từ xa xưa trong dân gian đã đặt các tuổi 13, 25, 37, 49, 61, 73……(về mặt toán học đó là các năm 12n+1 tuổi) là gặp “năm tuổi”, năm Thái Tuế. Vậy Thái Tuế là gì và thế nào là gặp năm tuổi…
1. Thái Tuế và thần Thái Tuế:
Trong vũ trụ có sao Mộc (木星 Mộc tinh, Jupiter) mà phương Đông gọi là sao Thái Tuế 太歲. Sao này 12 năm quanh hết một vòng quanh mặt trời, mỗi năm đi ngang qua một cung (30 độ) trên đường Hoàng đạo từ Tý đến Hợi hay từ Bạch Dương đến Song Ngư. Khi sao Mộc đi vào cung Tý năm đó gọi là năm Tý, đến cung Sửu năm đó là năm Sửu …vào cung Hợi là năm Hợi, có ảnh hưởng lớn tới con người và mùa màng trên Trái Đất 地毬. Ngày xưa ngôi sao này được dùng để đếm tuổi nên có tên gọi là “Tuế” (歲 tức là “năm” hay “tuổi) về sau linh ứng thành tín ngưỡng thần linh.
Tuy nhiên, sao Mộc vận hành từ Tây sang Đông ngược với phương hướng của 12 Địa Chi và chu kỳ chính xác của nó là 11,86 năm ~ gần bằng chu kỳ 12 năm. Điều này gây khó khăn trong phép làm lịch theo 12 địa chi, 12 cung hoàng đạo. Để khắc tình trạng này, các nhà thông thái từ xưa đã giả định một ngôi sao đối xứng với sao Mộc, có hướng vận hành ngược chiều sao Mộc, quỹ đạo đúng bằng 12 năm, trùng khớp phương vị của 12 Địa Chi.
Thái Tuế 太歲 còn gọi là Tuế Tinh 歲星, Thái Âm 太陰, Tuế Âm 歲陰, Tuế Quân 歲君, Thái Tuế Tinh Quân 太歲星君 là tên gọi của vị thần trong Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát 流年歲數十二神煞 với câu kệ là: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bẤt cảm đương, tự Thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa dương 太歲當頭坐, 諸神不敢當, 自身無剋害, 須用哭爹娘 (Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự Thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).”
Âm lịch thành hình do sự phối hợp giữa 10 Thiên can và 12 Địa chi, bắt đầu từ “Giáp Tí” đến “Quý Hợi” rồi lại quay lại hình thành chu kỳ Hoa Giáp 六十甲子年 60 năm. Tương truyền mỗi năm Trời phái một vị thần phụ trách, quản lý toàn bộ việc phúc họa của nhân gian. Như vậy, trong một Hoa Giáp sẽ có 60 vị Thái Tuế mà danh xưng, tính chẤt sẽ có ở bảng cuối bài. Vòng luân phiên các Thái Tuế tinh quân 太歲神是年歲之神 ứng với vòng Lục thập Hoa Giáp tính từ Giáp Tý đến Quý Hợi. Thái Tuế tinh quân xuẤt hiện tính từ Lập Xuân (nếu tiết Lập Xuân trước Nguyên Đán) hoặc Giao Thừa (nếu tiết Lập Xuân sau Nguyên Đán) và hết hạn làm việc vào ngày Đông Chí. Tinh quân này thì làm việc cùng quan Đương niên Hành khiển, chính vì thế khi cúng Giao thừa ngoài trời, (“Tống Cựu Nghinh Tân”) thì người ta cúng an Thái Tuế luôn và để dễ nhớ tôi đã lập một bảng chung: http://holuongduclaocai.blogspot.com/2015/02/vong-than-thoi-gian.html.
2. Hạn Thái Tuế:
Thái Tuế ngoài việc thể hiện vận trình chung của lưu niên 流年 năm đó, còn ảnh hưởng đến mệnh vận của mỗi cá nhân tùy năm sinh mỗi người. Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phúc thiện.
Người ta sinh ra sẽ có những mối quan hệ “hình xung phá hại” với Thái Tuế. Trong dân gian cho rằng nếu sinh tiêu (生肖, tuổi) của người nào không hợp với lưu niên Thái Tuế sẽ “phạm Thái Tuế” 犯 太 歲 (có thể là trực, xung, hình, hại, phá). Người có Chi của năm sinh trùng với Thái tuế trực niên dân gian gọi là “Trực Thái Tuế 值太歲”; còn Chi đối xung với Thái tuế, gọi là “xung Thái Tuế 衝太歲”, chi hình với Thái Tuế gọi là “hình Thái Tuế 刑太歲”. Dù loại nào, năm đó mọi chuyện đều không thuận lợi, sự nghiệp gặp khó khăn, cơ thể dễ bệnh tật. Cổ nhân từng nói “Để Thái Tuế hung, phụ Thái Tuế diệc hung” (mạo phạm đến Thái thì bị điều hung, mà nương tựa vào Thái Tuế cũng không hay). Nếu phạm sẽ gặp rất nhiều điều không hay nên đầu năm phải gặp Thái Tuế để cầu bình an.
Ví dụ năm Nhâm Thìn 2012 Thái Tuế trị niên có tên là: Thái Tuế Nhâm Thìn niên Bành Thái Đại Tướng Quân, 太歲壬辰年彭泰大將君, ngoài việc thể hiện vận trình chung của lưu niên năm đó, còn ảnh hưởng đến mệnh vận của cá nhân. Đó là: “Tuất xung 狗沖, Thìn trị 龍值, Mùi hình 未刑, Sửu phá 牛破, Mão hại 卯害” Thái Tuế. Tức những người tuổi này có vận trình năm đó không tốt.
Do vị trí của sao Thái Tuế thay đổi hằng năm nên ngoài việc ảnh hưởng đến sinh tiêu mỗi người mà còn ảnh hưởng tùy theo hướng của ngôi nhà. Dân gian tin rằng phương hướng của Thái Tuế là hung phương, cho nên không hướng về phương Thái Tuế, không động thổ vào phương hướng Thái Tuế của năm đó mà chỉ có thể quay lưng lại là tốt. Do vậy không ngồi đối diện với hướng Thái Tuế và không đặt vật gây ồn, chỗ làm huyên náo nơi Thái Tuế tùy năm. Phương vị của Thái Tuế mỗi năm căn cứ vào phương thức sau để sắp xếp:
HƯỚNG NHÀ | Bắc | Đông-Bắc | Đông | Đông-Nam | Tây-Nam | Tây | Tây-Bắc | |
NĂM PHẠM | Tý | Sửu, Dần | Mão | Thìn, Tỵ | Ngọ | Mùi, Thân | Dậu | Tuất, Hợi |
Đặc biệt chú ý: Người tuổi Tỵ, nhà ở hướng Đông-Nam mà gặp năm Thái Tuế sát vào năm Tỵ, thì vận hạn lại càng xấu hơn
3. Giải hạn Thái Tuế:
Dân gian có câu: “Phùng Thái Tuế chi niên, vô hỉ tất hữu họa” 逢太歲之年, 無喜必有禍, tức: gặp năm phạm Thái Tuế, nếu không có “hỉ sự” (cưới gả, sinh con …) thì ắt gặp tai họa. Nói thế, nhưng cũng còn tùy vào bát tự ngũ hành của mỗi tuổi mà có ảnh hưởng năng nhẹ khác nhau. Tốt nhất nên dùng phương pháp “AN VỊ Thái Tuế” 安太歲 để hóa giải và nên mặc quần áo, đồ trang sức màu đỏ để có thể đuổi được vận khí đen đủi, giúp có được diện mạo và tinh thần tốt nhất để đối mặt với năm bản mệnh. Bởi có tín ắt linh nghiệm 信則神, 誠則靈 mà!
Ban sơ, tục lệ An Thái Tuế rất đơn giản: vào dịp trước hay sau tiết Xuân, nhương chủ 禳主 lấy giấy màu hồng hay vàng viết lên dòng chữ “本年太歲星君到此”, đọc theo âm Việt là “Bản niên Thái Tuế Tinh Quân đáo thử (năm nay Thái Tuế Tinh Quân đến đây)”, hay “本年太歲星君神位” (“Bản niên Thái Tuế Tinh Quân thần vị”, thần vị của Thái Tuế Tinh Quân năm nay)” hoặc “一心敬奉太歲星君” (“NhẤt tâm kính phụng Thái Tuế Tinh Quân”, một lòng kính thờ Thái Tuế Tinh Quân) đem dán trong nhà, hằng ngày dâng hương cầu khấn. Đến cuối năm đem giấy đó ra đốt với ý nghĩa là “tiễn Thần lên Trời.”
Sắp lễ để lên bàn thờ, có thể làm ở chùa hay ở nhà, đặt Thái tuế phù bằng giấy hoặc đồng bên cạnh tượng Phật (nếu ở chùa), hoặc sau bát hương (nếu ở nhà), thắp nến hay thắp hương, rồi khấn: “Con là …………………………………., năm nay ……….. tuổi. Do trong năm gặp Thái tuế, nên mời Thái tuế trực niên đến trấn trạch. Hôm nay ngày tốt giờ đẹp, mùng ….. tháng …. năm Quý Tỵ. Con đã chuẩn bị đầy đủ hoa quả, kim lượng, mong Từ Đan tinh quân sớm giáng lâm!”. Chờ cháy hết hương, nếu trước đó viết sớ, hay mua quần áo Thái Tuế thì mang đi hóa.
Trường hợp mua hay thỉnh bùa Thái Tuế khi mang về trước khi dán thắp 3 cây nhang, soạn một mâm lễ, đọc bài “Thỉnh Thái Tuế”, tụng 3 lần bài chú “Cung thỉnh Thái Tuế tinh quân chú”. Sau đó dán ở vị trí phù hợp như cửa, phòng khách (phù bằng giấy đỏ, dán ở phía Đông hoặc Nam , phù bằng đồng dán ở phía Tây Nam ); không dán ở phòng ngủ, phòng vệ sinh.
Bài thỉnh Thái Tuế: “Hôm nay là ngày … tháng .. năm …Tại …(địa chỉ). Lễ chủ con là:… Thành tâm sửa biện hương hoa đăng trà quả thực, nhẤt tâm phụng thỉnh: Thập Phương Chư Phật Chư Đại Bồ Tát; Hiệu Thiên Kim Quyết Ngọc Hòang Thượng Đế; Trung Thiên Tinh Chúa Bắc Cực Tử Vi Trường Sinh Đại Đế; Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh Quân; Hữu Bắc Đẩu Cửu Hoàng Giải Ách Tinh Quân; Nhật Cung Thái Dương Tinh Quân; Nguyệt Phủ Thái Âm Tinh Quân; Lục Đinh Thiên Binh, Lục Giáp Thần Tướng, Ngũ Lôi Thiên Tướng, Ngũ Hổ Đại Thần; Bản Xứ Thành Hoàng Đại Vương, Tam Danh Thổ Địa Trần Huệ Đại Vương; Bái Thỉnh Thái Tuế Tân Mão Niên Phạm Ninh Tinh Quân
kính xinh được phù hộ cho toàn gia chúng con được có lộc có tài, tiêu tai giải ách, xuân lai cát khánh, hạ bảo bình an, thu miễn tam tai, đông nghinh bách phúc.
Cẩn cáo!”
Để hóa giải sao Thái Tuế, giải pháp tốt nhất là dùng biểu tượng kỳ lân-con vật cưng của Thái Tuế ở hướng có sao Thái Tuế để làm dịu ảnh hưởng của sao này, bảo vệ chống lại vận rủi, mang tài lộc vào nhà.
Nhưng dù sao, trong cuộc sống phải nhớ: không bao giờ ngồi đối diện với sao Thái Tuế, cho dù đó là hướng tốt nhất theo quái số để tránh đối đầu với sao này.
4. Thái Tuế năm 2015:
Trong vòng Hoa Giáp, năm 2015 gần nằm trọn trong năm Ất Mùi 乙未, sinh tiêu cầm tinh con Dê 羊, hứa hẹn là năm đại cát của người tuổi Mão, tuổi Hợi (tam hợp) còn các tuổi Tý, Sửu, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất lại là năm phạm Thái Tuế. Những người tuổi này bị phạm Thái Tuế : “Thái Tuế đương đầu tọa, vô hỷ khủng hữu họa (太歲當頭坐, 無喜恐有禍, Thái Tuế trên đầu ngự, chẳng vui e có họa)” nên cân nhắc rất kỹ và tốt nhất nên tránh làm các việc lớn như: khởi nghiệp, làm nhà, hôn nhân, hợp tác làm ăn…và trước khi muốn làm việc gì cũng nhất thiết phải hóa giải Thái Tuế, tránh nôn nóng dẫn đến hỏng việc. Cụ thể:
- Người tuổi Dê 羊 phạm trực Thái Tuế 犯值太 歲 (du hành Thái Tuế và năm sinh đương số đều ở Mùi 未, trùng với địa chi) bởi đây là năm tuổi cả người tuổi Mùi, Phong thủy gọi là “phục ngâm” (, tốt hay xấu sẽ tăng lên gấp nhiều lần). Năm bản mệnh đến thường có hai thái cực, hoặc là hồng vận đến, hoặc là vận đen đủi đeo bám liên miên. Sức phá hoại kém hơn xung một chút nhưng sẽ gây phiền não kéo dài, ít có thuận lợi suôn sẻ. Họa phúc mỗi thứ phân nửa, lúc được lúc mất. Phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt tìm cách vượt qua khó khăn mới được. Năm bản mệnh thường đi đôi với hai sao đại hung “Kiếm phong” và “Phục thi”.
Do trong năm tới dễ vì đầu óc bấn loạn mà đưa ra những quyết định sai lầm, cho nên việc đầu tư nên giữ ở trạng thái ổn định; những người thường hay lái xe hoặc những người phải tiếp xúc với máy móc cơ khí cần đặc biệt cẩn thận. Để giảm bớt hung, có thể đeo đồ trang sức có hình ngựa để cầu bình an; thực hiện những xung hỷ như kết hôn, mua nhà; đồng thời, trong năm tuổi cần đặc biệt lưu ý đến vấn đề sức khỏe và tinh thần.
- Người tuổi Sửu 丑, cầm tinh con Trâu 牛 phạm xung Thái Tuế 犯沖太歲 vì du hành Thái Tuế và năm sinh đương số lập thành cặp tương xung (Sửu-Mùi trong Lục xung). Người tuổi Sửu năm nay có hung tinh nhập cung là “đại hao”. Có tính đối kháng, tấn công , đánh nhau, còn gọi là “phản ngâm” (反, tăng lên gấp nhiều lần nhưng ở chiều ngược lại), nên luôn đi kèm với sự thay đổi của công việc, cuộc sống và tình cảm như chuyển việc hoặc chuyển nhà, xuất ngoại hoặc chia tay nên tài vận không được ổn định. Môi trường sinh sống, làm việc có phần giảm sút, nên cần có những chuẩn bị kỹ càng để ứng phó. Phạm xung Thái Tuế cũng dễ gây tổn hại đến sức khỏe như bị ngã, gặp va chạm giao thông nên cần chủ động cầu biến, cần có thái độ tích cực đối mặt khi xung Thái Tuế đến. Bởi khi phạm Thái Tuế, không có chuyện vui ắt sẽ gặp họa nên nếu có chuyện vui xung hỷ như kết hôn, mua nhà, sinh con, thăng chức… đều có thể giảm nhẹ ảnh hưởng tiêu cực của việc phạm Thái Tuế.
Đồng thời, chịu sự ảnh hưởng của sao Lan Can nên những người tuổi Sửu sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống cũng như công việc; sự xuất hiện của sao Đại Hao nên cần cẩn thận khi đầu tư để tránh mắc sai lầm, làm việc gì cũng không thuận lợi. Gặp trường hợp nầy phải hết sức cẩn thận và hạn chế phạm vi hoạt động, đừng mở mang thêm cái mới.
Về mặt tình cảm, trong năm Ất Mùi, những người tuổi Sửu rất dễ gặp chuyện xấu ngoài ý muốn nên cần đeo đồ trang sức bình an có hình rắn kèm với gà (Tam hợp) để đem lại sự bình an.
- Người tuổi Tuất 戌, tuổi Sửu 丑 cầm tinh con Trâu 牛, con Chó 狗 (tuổi nằm trong tứ xung) phạm hình Thái Tuế 犯刑太 歲 bởi địa chi đương sinh Thái Tuế và du hành Thái Tuế tương hình, ý nói về hình luật hoặc thương tật. Tuổi và năm rơi vào trường hợp “lục hình” với nhau, cần đề phòng những chuyện thị phi, “tai bay vạ gió”; nên nhường nhịn, tránh đối nghịch hoặc xen vào chuyện không phải của mình. Do vậy, kỵ việc bảo lãnh cho người, lưu ý các hợp đồng ký kết… dễ động đến cửa quan,
- Người tuổi Tý phạm hại Thái Tuế, tức là bất hòa, bất hợp bởi Tý-Mùi tương hại. Người tuổi Tý vừa trải qua năm Giáp Ngọ xung Thái Tuế, sang năm Ất Mùi vận thế có phần ổn định, nhưng trong năm này những người tuổi Tý vẫn phạm Thái Tuế cho dù mức độ có phần giảm nhẹ rất nhiều so với năm Giáp Ngọ (hại Thái Tuế), do đó cần đề phòng có kẻ hãm hại, nhưng may mắn lại có sao Nguyệt Đức soi chiếu, đồng nghĩa với việc có quý nhân giúp đỡ, lúc nguy nan sẽ được cứu giúp; còn sự xuất hiện của sao Ngọc Đường tượng trưng cho Kim Ngọc Mãn Đường, nên tài vận tương đối thuận lợi nhưng vẫn cần chú tâm rèn luyện, kỹ năng; cẩn trọng trong đầu tư, làm ăn. Về mặt tình cảm, năm nay có vận đào hoa xấu đeo bám, không nên quá tập trung vào chuyện tình cảm để tránh bị tổn thương. Năm Ất Mùi nên đeo đồ trang sức có hình con khỉ kèm với rồng để đón vận may đến.
- Còn người tuổi Tuất phạm phá Thái Tuế tức phá hoại hay di động, tao loạn nên cần đề phòng các quan hệ xã hội bị phá hoại; nhưng may mắn trong năm Ất Mùi người tuổi Tuất được sao Thái Dương soi chiếu, nên được quý nhân phù trợ, đồng thời những người nam tuổi Tuất có thể sẽ có quan hệ yêu đương với người hơn tuổi. Sự xuất hiện của sao Đường Phù có lợi cho sự nghiệp, còn sự xuất hiện của sao Địa Giải lại đồng nghĩa với việc phải di chuyển nhiều trong năm tới. Do chịu ảnh hưởng của sao xấu Quán Tác nên năm Ất Mùi không phải là thời điểm tốt cho việc hợp tác làm ăn, nếu không sẽ chịu tổn thất lớn. Trong năm này, người tuổi Tuất nên đeo trang sức có hình mèo để cầu bình an.
- Năm nay Phương vị Thái Tuế là Tây Nam , nên treo vật phẩm màu đỏ hay mua cặp Kỳ Lân đặt ở Tây Nam . Đồng thời muốn được Thái Tuế hỗ trợ cần: ngồi làm việc không nên quay mặt về hướng Tây Nam mà ngồi xoay lưng lại hướng này; ngủ cũng không nên quay đầu về hướng này tránh phạm Thái Tuế. Chú ý: tránh đào bới đất hoặc sửa chữa ở phương vị của Thái Tuế hoặc xung Thái Tuế. Nếu không có lựa chọn nào khác và bắt buộc phải tiến hành sửa chữa ở khu vực này, nên tránh bắt đầu và kết thúc công việc ở đây. Có thể bắt đầu ở những khu vực có sao tốt chiếu trong năm nay, chẳng hạn cung Bắc hoặc Đông.
Phạm Thái Tuế tuy gặp nhiều xui xẻo nhưng trên thực tế đó chỉ là phải đối mặt với một số thay đổi ở thế bị động. Để hóa giải phạm Thái Tuế có thể thay bằng thụ động bằng chủ động tạo ra sự thay đổi bằng một trong những cách sau đây:
- Tích cực tham gia các việc vui, một chuyện hỷ ngừa được ba việc họa.
- Người tuổi Mùi, Sửu, Tuất, Tý, Dần nên tích cực tham gia một số việc vui như hôn lễ, mừng thọ, lễ hội...
- Cố gắng không tham gia những việc vô ích, vô bổ nhất là việc “ôm rơm rặm bụng” vì những việc này sẽ càng đem lại vận đen cho bạn.
TÊN và TRỊ, XUNG, HÌNH THÁI TUẾ 120 NĂM ĐƯƠNG ĐẠI
SỐ TT | NĂM | THÁI TUẾ 太歲姓名 | LƯU NIÊN 流 年 | SINH TIẾU 生 肖 | PHẠM THÁI TUẾ 犯 太 歲 | |||
Âm lịch 六十甲子年 | Dương lịch | TRỊ 值 | XUNG 沖 | HÌNH 刑 | ||||
1 | Giáp Tý 甲子 | 1924, 1984 | Kim Biện 金辨 | Tý 子 | Chuột 鼠 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 | Mèo 兔 |
2 | Ất Sửu 乙丑 | 1925, 1985 | Trần Tài 陳才 | Sửu 丑 | Trâu 牛 | Trâu 牛 | Dê 羊 | Dê Chó 羊 狗 |
3 | Bính Dần 丙寅 | 1926, 1986 | Thẩm Hưng 沈興 | Dần 寅 | Hổ 虎 | Hổ 虎 | Khỉ 猴 | Rắn Khỉ 蛇 猴 |
4 | Ðinh Mão 丁卯 | 1927, 1987 | Cảnh Chương 耿章 | Mão 卯 | Mèo 兔 | Mèo 兔 | Gà 雞 | Chuột 鼠 |
5 | Mậu Thìn 戊辰 | 1928, 1988 | Triệu Đạt 趙達 | Thìn 辰 | Rồng 龍 | Rồng 龍 | Chó 狗 | Rồng 龍 |
6 | Kỷ Tỵ 己巳 | 1929, 1989 | Quách Xán 郭燦 | Tị 巳 | Rắn 蛇 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 | Hổ Khỉ 虎 猴 |
7 | Canh Ngọ 庚午 | 1930, 1990 | Vương Thanh 王清 | Ngọ 午 | Ngựa 馬 | Ngựa 馬 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 |
8 | Tân Mùi 辛未 | 1931, 1991 | Lý Tố 李素 | Mùi 未 | Dê 羊 | Dê 羊 | Trâu 牛 | Trâu Chó 牛 狗 |
9 | Nhâm Thân壬申 | 1932, 1992 | Lưu Vượng 劉旺 | Thân 申 | Khỉ 猴 | Khỉ 猴 | Hổ 虎 | Hổ Rắn 虎 蛇 |
10 | Quý Dậu 癸酉 | 1933, 1993 | Khang Chí 康志 | Dậu 酉 | Gà 雞 | Gà 雞 | Mèo 兔 | Gà 雞 |
11 | Giáp Tuất 甲戌 | 1934, 1994 | Tư Quảng 訾廣 | Tuất 戌 | Chó 狗 | Chó 狗 | Rồng 龍 | Trâu Dê 牛 羊 |
12 | Ất Hợi 乙亥 | 1935, 1995 | Ngô Bảo 吳保 | Hợi 亥 | Lợn 豬 | Lợn 豬 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 |
13 | Bính Tý 丙子 | 1936, 1996 | Quách Gia 郭嘉 | Tý 子 | Chuột 鼠 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 | Mèo 兔 |
14 | Ðinh Sửu 丁丑 | 1937, 1997 | Uông Văn 汪文 | Sửu 丑 | Trâu 牛 | Trâu 牛 | Dê 羊 | Dê Chó 羊 狗 |
15 | Mậu Dần 戊寅 | 1938, 1998 | Tăng Quang 曾光 | Dần 寅 | Hổ 虎 | Hổ 虎 | Khỉ 猴 | Rắn Khỉ 蛇 猴 |
16 | Kỷ Mão 己卯 | 1939, 1999 | Củng Trọng 龔仲 | Mão 卯 | Mèo 兔 | Mèo 兔 | Gà 雞 | Chuột 鼠 |
17 | Canh Thìn 庚辰 | 1940, 2000 | Chương Đức 章德 | Thìn 辰 | Rồng 龍 | Rồng 龍 | Chó 狗 | Rồng 龍 |
18 | Tân Tỵ 辛己 | 1941, 2001 | Trịnh Tổ 鄭祖 | Tị 巳 | Rắn 蛇 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 | Hổ Khỉ 虎 猴 |
19 | Nhâm Ngọ 壬午 | 1942, 2002 | Lục Minh 陸明 | Ngọ 午 | Ngựa 馬 | Ngựa 馬 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 |
20 | Quý Mùi 癸未 | 1943, 2003 | Nguỵ Nhân 魏仁 | Mùi 未 | Dê 羊 | Dê 羊 | Trâu 牛 | Trâu Chó 牛 狗 |
21 | Giáp Thân 甲申 | 1944, 2004 | Phương Kiệt 方傑 | Thân 申 | Khỉ 猴 | Khỉ 猴 | Hổ 虎 | Hổ Rắn 虎 蛇 |
22 | Ất Dậu 乙酉 | 1945, 2005 | Tưởng Tung 蔣嵩 | Dậu 酉 | Gà 雞 | Gà 雞 | Mèo 兔 | Gà 雞 |
23 | Bính Tuất 丙戌 | 1946, 2006 | Bạch Mẫn 白敏 | Tuất 戌 | Chó 狗 | Chó 狗 | Rồng 龍 | Trâu Dê 牛 羊 |
24 | Ðinh Hợi 丁亥 | 1947, 2007 | Phong Tế 封濟 | Hợi 亥 | Lợn 豬 | Lợn 豬 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 |
25 | Mậu Tý 戊子 | 1948, 2008 | Trịnh Tường 鄭堂 | Tý 子 | Chuột 鼠 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 | Mèo 兔 |
26 | Kỷ Sửu 己丑 | 1949, 2009 | Phan Hữu 潘佑 | Sửu 丑 | Trâu 牛 | Trâu 牛 | Dê 羊 | Dê Chó 羊 狗 |
27 | Canh Dần 庚寅 | 1950, 2010 | Ổ Hoàn 鄔桓 | Dần 寅 | Hổ 虎 | Hổ 虎 | Khỉ 猴 | Rắn Khỉ 蛇 猴 |
28 | Tân Mão 辛卯 | 1951, 2011 | Phạm Ninh 范寧 | Mão 卯 | Mèo 兔 | Mèo 兔 | Gà 雞 | Chuột 鼠 |
29 | Nhâm Thìn 壬辰 | 1952, 2012 | Bành Thái 彭泰 | Thìn 辰 | Rồng 龍 | Rồng 龍 | Chó 狗 | Rồng 龍 |
30 | Quý Tỵ 癸巳 | 1953, 2013 | Từ Giả 徐斝 | Tị 巳 | Rắn 蛇 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 | Hổ Khỉ 虎 猴 |
31 | Giáp Ngọ 甲午 | 1954, 2014 | Chương Thành章誠 | Ngọ 午 | Ngựa 馬 | Ngựa 馬 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 |
32 | Ất Mùi 乙未 | 1955, 2015 | Dương Hiền 楊賢 | Mùi 未 | Dê 羊 | Dê 羊 | Trâu 牛 | Trâu Chó 牛 狗 |
33 | Bính Thân 丙申 | 1956, 2016 | Quản Trọng 管仲 | Thân 申 | Khỉ 猴 | Khỉ 猴 | Hổ 虎 | Hổ Rắn 虎 蛇 |
34 | Ðinh Dậu 丁酉 | 1957, 2017 | Khang Kiệt 康傑 | Dậu 酉 | Gà 雞 | Gà 雞 | Mèo 兔 | Gà 雞 |
35 | Mậu Tuất 戊戌 | 1958, 2018 | Khương Vũ 姜武 | Tuất 戌 | Chó 狗 | Chó 狗 | Rồng 龍 | Trâu Dê 牛 羊 |
36 | Kỷ Hợi 己亥 | 1959, 2019 | Tạ Đào 謝燾 | Hợi 亥 | Lợn 豬 | Lợn 豬 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 |
37 | Canh Tý 庚子 | 1960, 2020 | Lư Siêu 盧超 | Tý 子 | Chuột 鼠 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 | Mèo 兔 |
38 | Tân Sửu 辛丑 | 1961, 2021 | Thang Tín 湯信 | Sửu 丑 | Trâu 牛 | Trâu 牛 | Dê 羊 | Dê Chó 羊 狗 |
39 | Nhâm Dần 壬寅 | 1962, 2022 | Hạ Ngạc賀諤 | Dần 寅 | Hổ 虎 | Hổ 虎 | Khỉ 猴 | Rắn Khỉ 蛇 猴 |
40 | Quý Mão 癸卯 | 1963, 2023 | Bì Thời 皮時 | Mão 卯 | Mèo 兔 | Mèo 兔 | Gà 雞 | Chuột 鼠 |
41 | Giáp Thìn 甲辰 | 1964, 2024 | Lý Thành 李誠 | Thìn 辰 | Rồng 龍 | Rồng 龍 | Chó 狗 | Rồng 龍 |
42 | Ất Tỵ 乙巳 | 1965, 2025 | Ngô Toại吳遂 | Tị 巳 | Rắn 蛇 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 | Hổ Khỉ 虎 猴 |
43 | Bính Ngọ 丙午 | 1966, 2026 | Văn Triết 文哲 | Ngọ 午 | Ngựa 馬 | Ngựa 馬 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 |
44 | Ðinh Mùi 丁未 | 1967, 2027 | Mâu Bính 繆丙 | Mùi 未 | Dê 羊 | Dê 羊 | Trâu 牛 | Trâu Chó 牛 狗 |
45 | Mậu Thân 戊申 | 1968, 2028 | Dụ Chí 喻志 | Thân 申 | Khỉ 猴 | Khỉ 猴 | Hổ 虎 | Hổ Rắn 虎 蛇 |
46 | Kỷ Dậu 己酉 | 1969, 2029 | Trình Thực 程實 | Dậu 酉 | Gà 雞 | Gà 雞 | Mèo 兔 | Gà 雞 |
47 | Canh Tuất 庚戌 | 1970, 2030 | Nghê Bí 猊秘 | Tuất 戌 | Chó 狗 | Chó 狗 | Rồng 龍 | Trâu Dê 牛 羊 |
48 | Tân Hợi 辛亥 | 1971, 2031 | Diệp Kiên 葉堅 | Hợi 亥 | Lợn 豬 | Lợn 豬 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 |
49 | Nhâm Tý 壬子 | 1972, 2032 | Khâu Đức丘德 | Tý 子 | Chuột 鼠 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 | Mèo 兔 |
50 | Quý Sửu 癸丑 | 1973, 2033 | Lâm Phiêu 林朴 | Sửu 丑 | Trâu 牛 | Trâu 牛 | Dê 羊 | Dê Chó 羊 狗 |
51 | Giáp Dần 甲寅 | 1974, 2034 | Trương Triều 張朝 | Dần 寅 | Hổ 虎 | Hổ 虎 | Khỉ 猴 | Rắn Khỉ 蛇 猴 |
52 | Ất Mão 乙卯 | 1975, 2035 | Vạn Thanh 萬清 | Mão 卯 | Mèo 兔 | Mèo 兔 | Gà 雞 | Chuột 鼠 |
53 | Bính Thìn 丙辰 | 1976, 2036 | Tân Á 辛亞 | Thìn 辰 | Rồng 龍 | Rồng 龍 | Chó 狗 | Rồng 龍 |
54 | Ðinh Tỵ 丁巳 | 1977, 2037 | Dịch Ngạn 易彥 | Tị 巳 | Rắn 蛇 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 | Hổ Khỉ 虎 猴 |
55 | Mậu Ngọ 戊午 | 1978, 2038 | Lê Khanh 黎卿 | Ngọ 午 | Ngựa 馬 | Ngựa 馬 | Chuột 鼠 | Ngựa 馬 |
56 | Kỷ Mùi 己未 | 1979, 2039 | Phó Thảng 傅儻 | Mùi 未 | Dê 羊 | Dê 羊 | Trâu 牛 | Trâu Chó 牛 狗 |
57 | Canh Thân 庚申 | 1980, 2040 | Mao Tử 毛梓 | Thân 申 | Khỉ 猴 | Khỉ 猴 | Hổ 虎 | Hổ Rắn 虎 蛇 |
58 | Tân Dậu 辛酉 | 1981, 2041 | Thạch Chính 石政 | Dậu 酉 | Gà 雞 | Gà 雞 | Mèo 兔 | Gà 雞 |
59 | Nhâm Tuất 壬戌 | 1982, 2042 | Hồng Khắc 洪克 | Tuất 戌 | Chó 狗 | Chó 狗 | Rồng 龍 | Trâu Dê 牛 羊 |
60 | Quý Hợi 癸亥 | 1983, 2043 | Lư Trình 盧程 | Hợi 亥 | Lợn 豬 | Lợn 豬 | Rắn 蛇 | Lợn 豬 |
Ngoài phạm Thái Tuế (5 năm: trị, xung, hình, phá, hại trong chu kỳ 12 năm), trong dân gian còn hạn Cửu Diệu (3 sao xấu trong chu kỳ 9 năm) rồi Kim Lâu, Hoang Ốc, Tứ nương, Nguyệt kị, Tứ ly, Tứ tuyệt, …rất phức tạp mà nhiều khi cho kết quả trái ngược nhau mà càng đọc càng rối!
Trong đó, hạn Thái Tuế và việc kiêng kỵ Thái Tuế trong xây dựng, cưới hỏi, xuất hành… tùy từng thời điểm, từng vùng. Ngày nay, Thiên văn học đã tiến bộ vượt bậc, nhân gian đã hiểu rõ về nguồn gốc hình thành sao Thái Tuế và quá trình vận hành của nó, sự liên quan của quá trình đó với mọi sự vật, hiện trượng trong vũ trụ. Do vậy không còn lý do gì để kiêng kỵ Thái Tuế một cách thái quá để bỏ lỡ cơ hội. Có điều không nên phỉ báng, chối bỏ cực đoan niềm tin trong tín ngưỡng dân gian tích lũy từ bao đời.
- Lương Đức Mến, BS từ nhiều nguồn, chiêm nghiệm và SD trong gia đình-
Cảm ơn Bạn vì đã đồng hành cùng LinhHonHuynhDe! Đừng quên like, chia sẻ nếu bài viết hữu ích với Bạn.
· ngày Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

Không có nhận xét nào: